Tư vấn tài chính doanh nghiệp

“Tôi là người làm việc trong lĩnh vực tài chính và hỗ trợ kinh doanh.”

Đây là lời giới thiệu mà tôi vẫn thường dùng khi tiếp xúc với bạn bè, đối tác hay khách hàng. Và, cũng như bạn, câu hỏi đầu tiên mà tôi nhận sau lời giới thiệu là “Nó là cái gì vậy?”

Khái niệm này quả thực lạ. Bản thân tôi mất hơn một năm hì hụi làm việc, rốt cuộc nhiều khi vẫn
thường xuyên quên mất mình đang làm gì. Bạn bè tôi cũng vậy, có những người, rất sáng dạ – theo đánh giá cá nhân tôi, sau khoảng ba lần giải thích vã mồ hôi, tôi mới nhẹ nhàng thở phào khi thấy anh ta khe khẽ gật. Thế nhưng chỉ vài ngày sau, tôi nhận được cú điện thoại của một người do anh bạn tôi vừa nhắc đến giới thiệu. Sau vài câu chào hỏi, người gọi điện nói “…anh ấy có giới thiệu về hoạt động của công ty anh. Qua lời giới thiệu, tôi cảm giác dịch vụ của các anh có thể cần cho chúng tôi, nhưng quả thật tôi vẫn chưa hiểu cụ thể những dịch vụ bên anh cung cấp là gì…

Điều ấy có nghĩa là tôi vẫn chưa có được cách giải thích tốt nhất. Vậy dịch vụ tài chính – financial service và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh – business support service là gì? Chúng khác nhau ra sao?

Tôi muốn cùng chia sẻ với các bạn Saganor về khái niệm này. Mong rằng các bạn chưa biết sẽ hiểu thêm một chút, và những bạn đã biết, hoặc đang cùng hoạt động trong lĩnh vực của tôi, có thể bổ sung giúp để cộng đồng Saganor có cái nhìn chính xác về hai nhóm dịch vụ rất quen thuộc với thế giới kinh doanh.

Năm 1999-2000, những tổ chức tài chính quốc tế ở Việt Nam (MPDF, IMF,…) lần đầu tiên đưa ra khái niệm về dịch vụ kinh doanh. Hiểu kỹ thì những dịch vụ này là “Dịch vụ hỗ trợ Kinh doanh”. Điều này bắt nguồn từ sự vận động trong luồng quy trình hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp. Các dịch vụ và hỗ trợ cần thiết có thể rất đa dạng:

  • Sắp xếp lại sổ sách;
  • Dựng lại và tái bố trí cơ cấu nhân sự;
  • Qui hoạch lại các điều kiện về quản lý;
  • Đưa các dự án đầu tư của doanh nghiệp vào kế hoạch có lộ trình và có giám sát;
  • Giới thiệu và giúp triển khai các tiêu chuẩn vận hành ISO 9000 (9001:2000), MIS, SA 8000, HACCP QA,…
  • và nhiều loại khác.

Những nhu cầu dạng này luôn tồn tại, mặc dù thời điểm bộc lộ ra rõ nét nhất với từng doanh nghiệp có thể rất khác biệt. Các tập đoàn cung cấp loại dịch vụ này cũng đã hoạt động ở Việt Nam từ lâu, một vài cái tên có thể điểm là Earnest & Young, KPMG, Công ty luật Phillip Fox, Fresh fields, White & Case, Clifford Chance.

Họ cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chủ yếu cho các doanh nghiệp nước ngoài. Tại sao lại là các doanh nghiệp nước ngoài? Bởi vì với các doanh nghiệp nước ngoài, tập quán sử dụng dịch vụ này đã có từ lâu. Những thỏa ước sử dụng dịch vụ cũng đã được xây dựng từ trước, đồng thời là tính chuyên môn hóa lao động cao,…

Vậy những tổ chức nói ở trên có muốn cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp Việt Nam không? Câu trả lời là Có. Tuy nhiên quá trình đó vấp phải một số cản trở:

  • Cách thức điều hành
  • Cách hiểu về vận hành của công nghệ quản trị mới.
  • Khác biệt văn hóa.
  • Đánh giá về giá trị của dịch vụ.

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thường phải bắt nguồn từ nhu cầu của chính doanh nghiệp, hướng đến giải quyết những khó khăn trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Bởi vậy việc nhận thức tầm quan trọng tiến đến đánh giá sử dụng những dịch vụ này cần có những điều kiện nhất định. Doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ đó thấy những dịch vụ này quá xa lạ – tất nhiên đó không phải lỗi của họ. Khi mà hoạt động quản trị hoàn toàn mang tính tự phát, hiếm vị giám đốc nào hiểu về quản trị hiện đại, kinh doanh chủ yếu dựa trên tận dụng những lợi thế nhất định về đất đai, tài nguyên, mối quan hệ, quyền lợi được chỉ định,… thì việc dịch vụ hỗ trợ kinh doanh là câu chuyện của doanh nghiệp nước ngoài cũng không quá khó hiểu.

Thế còn “Dịch vụ Tài chính” là gì?

Dịch vụ tài chính là dịch vụ kinh doanh nhưng được hiểu theo nghĩa rất hẹp là nhóm dịch vụ liên quan trực tiếp đến:

  • Huy động vốn;
  • Dàn xếp vốn;
  • Quản trị các nguồn vốn.

Doanh nghiệp bên cạnh hoạt động vận hành kinh doanh được diễn ra lặp đi lặp lại hàng ngày, thì khi họ muốn triển khai một kế hoạch mới: dự án mở rộng, đầu tư mới, mua lại doanh nghiệp khác,… họ sẽ đối mặt với những vấn đề về vốn. Thời gian đầu ở Việt Nam, khi những định chế tài chính, ngay cả ngân hàng, chưa đạt được quy mô như ngày nay, nguồn vốn và các phương án tiếp cận nguồn vốn đều rất khó nhìn thấy. Những doanh nghiệp nhỏ đôi khi phải nhắm mắt bỏ qua cơ hội “ngon ăn rõ mười” bởi lý do đơn giản là không có vốn. Câu chuyện thời năm 1999-2000 được giải quyết một phần khi những tổ chức như IFC (International Finance Corporation) một mặt hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam xây dựng kế hoạch kinh doanh, mặt khác tìm kiếm các nguồn vốn tài trợ cho kế hoạch kinh doanh đó, rồi giúp họ quản lý, sử dụng vốn một cách hiệu quả. Tất nhiên hiệu quả còn là một câu chuyện dài. Một trong những nguồn được nhiều người biết đến là quỹ Mekong (Mekong Capital hay Mekong Enterprise Fund).

Nền kinh tế và đặc biệt là thị trường tài chính ngày càng phát triển kéo theo sự hình thành của
ngày càng nhiều những nhu cầu mới và dịch vụ đáp ứng. Dịch vụ tài chính, do đó, cũng đã mở rộng thêm sang những lĩnh vực mới như:

  • Sắp xếp và tái cấu trúc vai trò nguồn vốn, cơ cấu sở hữu quy định;
  • Quy hoạch chiến lược các khoản đầu tư, trong đó vai trò tiếp theo quan trọng nhất là vốn

Đây là những công việc mang tính chuyên môn cao, cần cùng lúc phối hợp nhiều nguồn lực quy mô lớn – nhân lực và vật lực. Các tập đoàn dịch vụ tài chính là những đơn vị đảm nhiệm công việc này. Tập đoàn dịch vụ tài chính gồm:

  • Tập đoàn NH;
  • Công ty đầu tư;
  • Tập đoàn tài chính đa ngành…

Những tổ chức nước ngoài ở Việt Nam có năng lực cung cấp dịch vụ này bao gồm: HSBC, CitiGroup, VinaCap, Indochina, Dragon,… Ở trong nước, hệ thống ngân hàng thương mại áp đảo. Nếu bạn hỏi thế nào là áp đảo, thì hãy tưởng tượng mình là giám đốc một doanh nghiệp cần vay vốn mở rộng nhà xưởng chẳng hạn. Bạn sẽ tìm vốn ở đâu: về nhà kiểm tra lại két sắt? vay gia đình? vay bạn bè? hay đến ngân hàng? Một số công ty tài chính trong nước hoạt động phạm vi hẹp khống chế ngành. Bạn có bao giờ nghĩ đến việc đi vay tiền ở công ty tài chính bưu điện, công ty tài chính dầu khi, công ty tài chính dệt may,…; nếu có, hãy so với số lần bạn nghĩ đến ngân hàng.

Một dạng công ty cung cấp dịch vụ tài chính khác cũng cần nhắc đến là các công ty chứng khoán. Nhưng hiện nay, dịch vụ mà họ có thể cung cấp ở phạm vi quá nhỏ hẹp.

Sự tương tác cần thiết giữa dịch vụ tài chính và dịch vụ kinh doanh là gì?

Thực tế những dịch vụ này hiện nay thế nào? Phạm vi cung cấp dịch vụ tài chính hiện rất hẹp dù đang có ý nghĩa rất quan trọng ở thời điểm hiện tại. WTO đồng nghĩa với cạnh tranh. Tài chính là một trong những sức mạnh căn bản của doanh nghiệp. Nhu cầu tăng vốn, huy động thêm vốn, cơ cấu vốn và quản trị nguồn vốn ngày càng lớn, nhưng như phân tích ở trên, những tổ chức tài chính có khả năng cung cấp dịch vụ là không nhiều, hơn nữa dịch vụ của họ rất đắt.

Dịch vụ kinh doanh có quy mô rộng tuy nhiên vấp phải những khó khăn về văn hóa kinh doanh, tập quán vàphương pháp quản trị. Đây là những vấn đề đã từng nhắc đến vào thời điểm 10-15 năm trước và rõ ràng là chưa mất đi hoàn toàn. Không thể phủ nhận đã có những doanh nghiệp lớn, tiếp cận rất nhanh với công nghệ kinh doanh mới. Nhưng con số đó là rất nhỏ so với thống kê tôi tham khảo được trên website Vietnamese Law Consultancy: “số lượng doanh nghiệp đăng ký ở nước ta đã tăng rất nhanh. Tính từ đầu năm 2000 cho đến hết 2005, đã có hơn 160.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập, gấp hơn 3 lần so với tổng số doanh nghiệp được thành lập trong cả thập kỷ trước (1990-1999)”

Dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh có điểm chung bắt đầu và quyết định là nhu cầu vốn và vốn được quản trị theo cách thức tốt nhất. Nghĩa là ngay khi tính việc gọi vốn từ đâu, bao nhiêu, thế nào cũng đã phải tính đến việc vốn đó để ở đâu, giải ngân thế nào, làm sao đảm bảo hiệu quả – tức là quản trị nguồn vốn nói riêng và quản trị kinh doanh nói chung.

Không dừng ở điểm chung bắt đầu và quyết định, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ tài chính trên thực tế cần nhất thiết phối hợp phối hợp với nhau để mang lại hiệu quả vận hành cao nhất, chẳng hạn:

  • Sẽ rất khó để ra quyết định hay thực hiện đầu tư nếu doanh nghiệp mục tiêu chưa được
    kiểm toán đúng quy cách – khó khăn này xuất hiện với các nhà đầu tư tổ chức và công chúng đầu tư. Rủi ro này được mô tả qua sự kiện Enron;
  • Khó dàn xếp vốn nếu cấu trúc quản trị không rõ ràng: Việc đưa nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài vào có thể mang lại những biến đổi lớn trong cấu trúc quản lý và sở hữu của doanh nghiệp. Chừng nào cơ cấu hiện tại và các phương án sắp xếp để nguồn vốn đó có vị trí đại diện hợp lý bên trong doanh nghiệp chưa được làm rõ ràng, chừng đó còn rào cản huy động vốn;
  • Không thể M&A nếu chưa có quá trình “due diligence”: due-diligence là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam nhưng lại rất quan trọng trong chuẩn mực đầu tư quốc tế. Hiểu một cách đơn giản, khái niệm này mô tả một công đoạn khảo sát, phân tích, đánh giá lại toàn bộ quá trình, tính chính xác, hợp lý của từng công việc đã triển khai và đánh giá những rủi ro tiềm ẩn có thể phát sinh trong quá trình triển khai tiếp. Tạm gọi nó là đánh giá với trách nhiệm cao nhất” – hoạt động đánh giá này đôi khi do doanh nghiệp thực hiện, nhưng thường (và được ưa thích) là đơn vị chuyên môn độc lập – đây là một dịch vụ hỗ trợ kinh doanh;
  • Giải ngân khó khăn nếu gặp phải những khó khăn pháp lý. Ví dụ này quá rõ, quy trình vay/gọi vốn, xét duyệt cho vay/thoả thuận đầu tư và giải ngân là quy trình có yêu cầu rất nghiêm ngặt, nhạy cảm với các rủi ro tiềm tàng đặc biệt là vấn đề pháp lý. Doanh nghiệp để thực hiện tốt thường cần có một đơn vị cố vấn pháp lý để đảm bảo hạn chế được rủi ro này. Cố vấn ở đây không chỉ dành cho bên nhận vốn mà còn cả với bên cấp vốn.

Đôi lúc đối với doanh nghiệp, những công việc kết hợp này đặc biệt quan trọng, đặc biệt là với những dự án quy mô lớn, phức tạp, yêu cầu năng lực điều phối cao, ăn khớp giữa các hoạt động tài chính và quản trị. Chẳng hạn với một dự án vừa yêu cầu thu hút vốn vừa yêu cầu tái cơ cấu doanh nghiệp, và bị giới hạn thời gian trong 10 tháng, khối lượng công việc điều phối dẫn đến việc hình thành các tổ công tác chuyên trách (TCT-task force). Dự án sẽ sử dụng tới dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Tổ chuyên trách thường sẽ bao gồm cả người của doanh nghiệp, người các bên cung cấp dịch vụ và đôi khi là cả người có trách nhiệm cố vấn chung. Vai trò của TCT là tính toán lên kế hoạch về thời gian, nhân lực, vật lực đảm bảo các đầu mục việc ăn khớp với các mốc thời gian, các mốc nhận vốn và chi tiêu. Cụ thể hơn TCT đóng vai trò người lãnh đạo dự án, điều phối hoạt động của các nhóm cung cấp dịch vụ để tránh lãng phí tiền-thời gian-công sức do làm nhầm việc. Phần việc còn lại: làm tốt việc theo kế hoạch của TCT do chính các đơn vị cung cấp dịch vụ chịu trách nhiệm. Khi dự án đã hoạt động đầy đủ, tổ công tác có thể chấm dứt ngay. Có khi nhân sự TCT được chuyển sang điều hành hoạt động kinh doanh mới. Quyết định cụ thể sẽ do yêu cầu công việc.

Tôi có một người bạn kinh doanh nhỏ, có hai cửa hàng bán các sản phẩm công nghệ cao như laptop, palm, pocket PC, máy ảnh kĩ thuật số, ở Hà Nội và Hải Phòng. Anh bạn rất quý tôi, một phần bởi hai người cùng có sở thích làm đến 1-2 giờ đêm rồi đi uống một chút cho ấm bụng để về ngủ, một phần khác vì chúng tôi hay trao đổi về công việc của anh ấy. Tôi lấy chẳng hạn một vài vấn đề:

1. Anh ta cần vốn để nhập đợt hàng mới chuẩn bị cho Tết, anh ta hỏi tôi nên làm thế nào? Hiện tại anh đang nghĩ đến việc đi vay bố mẹ, họ hàng, bạn bè; hoặc đi thế chấp căn nhà vay tiền ngân hàng; hoặc gọi một người bạn vào góp vốn? Với mỗi phương án anh ta đều có những băn khoăn riêng, chẳng hạn nếu vay tiền người thân thì sẽ có nhiều thủ tục “loằng ngoằng” người nhà, không thích hợp với kinh doanh; nếu vay tiền ngân hàng, sẽ mất thời gian giải trình mục đích, thậm chí phải viết kế hoạch chi tiêu vốn; với phương án góp vốn, vấn đề của anh là người đối tác sẽ góp bao nhiêu và sẽ có quyền như thế nào trong hoạt động kinh doanh hiện tại của anh?

Vấn đề anh băn khoăn về lấy vốn ở đâu, về góp vốn thì góp bao nhiêu và chia sẻ quyền lợi/sở hữu thế nào? là những vấn đề về dịch vụ tài chính.

Băn khoăn của anh về mức độ “loằng ngoằng” trong thủ tục vay tiền cá nhân, trong vấn đề giải trình mục đích và kế hoạch sử dụng vốn với ngân hàng,… là những vấn đề mà dịch vụ hỗ trợ kinh doanh có thể đáp ứng.

2. Anh ta hỏi tôi muốn triển khai một kế hoạch marketing cho cửa hàng ở Hải Phòng – vấn đề này thuần túy thuộc dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp có hỗ trợ truyền thông.

Một vài giải thích đơn giản ở trên mong có thể giúp các bạn hiểu phần nào về hai nhóm dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Một lần nữa rất mong những Saganor đã có kinh nghiệm có thể chia sẻ kiến thức hoặc ví dụ thực tế, hoặc vấn đề đang băn khoăn để các Saganor khác cùng trao đổi.

Thân.

Đăng ký dịch vụ

Bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai Phải điền đầy đủ các trường bắt buộc *